Người Trung Quốc?

Tượng Lý Thái Tổ được thờ ở Đền Đô (Đình Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh)
Chụp lại hình ảnh, Tượng Lý Thái Tổ được thờ ở Đền Đô (Đình Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh)
    • Tác giả, Ngữ Thiên
    • Vai trò, viết cho BBCVietnamese.com từ Hà Nội
  • Được đăng

Trong những ngày gần đến đợt kỷ niệm 1000 năm Thăng Long, dư luận nói nhiều tới Lý Công Uẩn, vị vua đầu tiên của nhà Lý.

Bên cạnh các nguồn tư liệu và những kết quả nghiên cứu từ Việt Nam cho rằng Lý Công Uẩn quê ở hương Diên Uẩn, châu Cổ Pháp - (Từ Sơn, Bắc Ninh ngày nay). Tư liệu Trung Quốc lại có những ghi chép cho rằng dòng họ vua Lý Công Uẩn có nguồn gốc đến từ đất Mân (Phúc Kiến, Trung Quốc).

Một số nhà nghiên cứu Trung Quốc căn cứ vào các tư liệu này cũng tiếp tục cho rằng dòng họ lập nên triều Lý của quốc gia Đại Việt vốn gốc tích từ vùng Mân, sau mới di cư xuống phía Nam.

Những ghi chép sớm nhất, biên soạn dưới thời Tống, đề cập đến vấn đề gốc tích Lý Công Uẩn là Mộng Khê bút đàm của Thẩm Quát và Tốc thuỷ ký văn của Tư Mã Quang.

Mộng Khê bút đàm biên chép những hiểu biết của tác giả trên khá nhiều lĩnh vực, gồm cả những ghi chép của tác giả về những lưu truyền trong dân gian, được Thẩm Quát thu thập trong lúc giao du, thăm thú các địa phương, gặp gỡ với bạn bè.

Mộng Khê bút đàm có nhiều lầm lẫn về tên người, niên đại, sự kiện. Chỉ một trang trong quyển 25, khi lược thuật tình hình biến động chính trị Đại Việt thời Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý, các nhân vật được Thẩm Quát nhắc đến có tới ba người tên họ chép không chính xác: Lê Hoàn, chép thành Lê Uy, Lý Thường Kiệt ghi thành Lý Thượng Cát , Ỷ Lan thành Yến Loan...

Cũng như Mộng Khê bút đàm, Tốc thuỷ ký văn của Tư Mã Quang là tác phẩm dã sử viết theo thể bút ký, tản văn.

Sách ghi chép nhiều nội dung khác nhau, từ chuyện tình bí sử chốn cung đình đến những việc vụn vặt mà tác giả nghe kể từ dân gian... Có lẽ vì thế, ngay từ thời Tống, Tốc thuỷ ký văn đã bị liệt vào hạng "cấm thư". Tốc thuỷ ký văn ghi lại sự "nghe nói" của Từ Bách Tường về nguồn gốc người Mân của "tiên thế" vua Lý và không có thêm bình luận gì!

Đến thời Thanh, Cố Tổ Vũ trong Độc sử phương dư kỷ yếu tiếp tục nói lại chuyện này, nhưng cũng không có gì mới hơn so với các sách thời Tống.

Người gốc Trung Quốc sáng lập ra Thăng Long?

Gần đây, các nhà nghiên cứu Trung Quốc như Hàn Chấn Hoa, Lý Thiên Tích vẫn cho rằng nguồn gốc dòng họ vua Lý Công Uẩn đến từ vùng đất Mân.

Tư liệu của các tác giả này chủ yếu dựa vào các tài liệu địa phương, được biên soạn, bổ sung thông tin rất muộn sau này. Tác giả Lý Thiên Tích khi dẫn những tài liệu cho rằng "vô cùng quý giá", song cũng nhận định "trong phả có nhiều chỗ sai lầm".

Bắt đầu chỉ từ những lưu truyền dân gian với nhiều điểm nghi ngờ, chưa được làm sáng tỏ, cũng rất khó kiểm chứng, và những ghi chép đầu tiên cũng chỉ xuất hiện trong các bút ký, tản văn, các tác giả Trung Quốc đã đưa chuyện Lý Công Uẩn nguồn gốc Mân vào ghi chép của mình.

Các nhà nghiên cứu Việt Nam cũng sớm biết những ghi chép về nguồn gốc Mân của họ Lý. Từ đầu thế kỷ XIV, An Nam chí lược do Lê Tắc biên soạn, biết chuyện có sách cho rằng Lý Công Uẩn người gốc Mân, đã quả quyết: "Lý Công Uẩn, người Giao Châu, có kẻ bảo là người Mân, không đúng"[1].

Từ thập niên 40 của thế kỷ XX, học giả Hoàng Xuân Hãn trong công trình khảo cứu rất nổi tiếng Lý Thường Kiệt lịch sử ngoại giao và tông giáo triều Lý, khi dẫn giải vấn đề nguồn gốc, quê hương của vị vua sáng lập ra triều Lý, có nhắc đến các ghi chép của Thẩm Quát, Tư Mã Quang hay Lý Đào... nhưng chưa đưa ra kết luận mà chỉ coi đó là những thông tin nên lưu ý, một hướng giả thuyết trong việc tìm hiểu gốc tích của Lý Công Uẩn.

Những năm gần đây, trên cơ sở phân tích nguồn tài liệu thư tịch và khảo sát địa phương, kết quả nghiên cứu của các tác giả Trần Quốc Vượng (2001), Nguyễn Quang Ngọc (2009)... đều tập trung, hướng sự chỉ dẫn về vùng đất sinh thành, quê hương, nơi gắn bó cùng tuổi thơ Lý Công Uẩn ở vùng Kinh Bắc.

Vùng này rộng lớn, có thể tương đương với thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, mà trung tâm là các phường Tân Hồng, Đình Bảng hiện nay.

[1] Lê Tắc: An Nam chí lược, bản Tứ khố toàn thư, Sử bộ, Tải ký loại, Q.12, tờ 1a; bản dịch An Nam chí lược của Viện Đại học Huế, 1961, tr.201).